Truong-Xuan Association logo
Trường-Xuân
Hành-trình tìm Tự-Do


English
Tiếng Việt
Trang Chủ Hình ảnh Trường-Xuân Bài viết Tài-liệu Liên Lạc

Cảm nghĩ về một chuyến đi - Nhuệ Hồng




Nhân dịp Lễ Tạ Ơn

CẢM NGHĨ VỀ MỘT CHUYẾN ĐI


Nhuệ Hồng

(Nguồn: Ngày Nay Số 308, 15 tháng 11, 1994)
LTS: Nhuệ Hồng là bút hiệu của Luật sư Nguyễn Hữu Thống, ở San Jose.


Một số thân hữu Trường Xuân yêu cầu tôi đến tham dự buổi ra mắt sách Hồi Ký Một Đời Người tập II của tác giả Phạm Ngọc Lũy. Tôi có nghĩa vụ phải đến vì cụ Phạm Ngọc Lũy là ân nhân của đại gia đình Trường Xuân chúng tôi. Ngoài ra giữa cụ Phạm Ngọc Lũy và tôi, ít nhất cũng còn ba mối giao tình:

Theo cố nhân vì cùng sinh ra trên trái đất này, ngay từ khi chào đời, chúng tôi đã có tình tương tri.

Cùng đi trong chuyến đi định mệnh trên con tầu Trường Xuân, chúng tôi đã có tình tương lân.

Từng đọc sách của nhau trong nhiều năm, chúng tôi lại có tình thông gia.

Tôi đến đây để xin nói lên một vài cảm nghĩ về chuyến đi định mệnh Trường Xuân.

Đây có lẽ là chuyến đi vượt biển quy mô đầu tiên của người Việt tị nạn sau khi miền Nam thất thủ. Trường Xuân là tầu chở hàng, nên chỉ được phép chở 12 hành khách. Vậy mà số thuyền nhân trên tầu hôm đó lên tới 3628 người. Chúng tôi ngồi theo kiểu cá hộp, cứ bốn người chia nhau một thước vuông.

Hôm trước, Ủy ban Tiếp Thâu Tầu Biển, một tổ chức ngoại vi của Việt Cộng đã có cho đặc công đi phá máy các tầu đậu bến Saigon. Họ được lệnh chỉ phá hoại chừng mực, đến ngày hôm sau, mồng 1 tháng 5, ngày Quốc tế Lao Động, Ủy ban Tiếp thâu Tầu Biển sẽ mang tầu dâng cho đảng. Sau khi sửa được máy, tầu Trường Xuân nhổ neo rời Kho Năm Khánh Hội hồi 1 giờ trưa ngày 30-4-1975. Phần vì máy yếu, phần vì chở nặng, con tầu lết đi trên sông Saigon. Tới khu Rừng Sát tầu bị mắc cạn. May mà chiều đến nước thủy triều dâng cao, contầu được kéo ra khỏi chỗ xình lầy. Lúc này tầu chết máy và được nột con tầu chở gạo tí hon kéo đi bằng giây thừng. Tốc độ trung bình là hai hải lý một giờ. Đứng trên boong tầu chúng tôi nhìn thấy hình ảnh một con kiến tha một con dế.

Chiều hôm đó một số tầu tị nạn chạy qua vịnh bị Việt Cộng pháo kích. Nhà văn Chu Tử bị tử thương trên tầu Việt Nam Thương Tín.

Ngày nay nghĩ lại việc này chúng tôi mới tin có Thiên Ý. Và chuyến đi của chúng tôi đã được giúp đỡ bởi bàn tay của Trời.

Thông thường hai trường hợp có thể xẩy ra:

Hoặc là, tầu Trường Xuân bị phá máy toàn diện, và như vậy chúng tôi không thể khởi hành.

Hoặc là, tầu Trường Xuân không bị phá hoại, và như vậy chúng tôi sẽ đến Vũng Tầu từ đêm hôm trước và sẽ bị pháo kích. Nhưng khác với tầu Việt Nam Thương Tín, nếu bị pháo kích, tầu Trường Xuân chắc chắn sẽ bị chìm. Không phải chìm vì pháo mà vì sự hỗn loạn của người trên tầu. Để tránh lằn đạn, các thuyền nhân sẽ bỏ chạy từ khoang tầu bên này qua khoang tầu bên kia, khiến con tầu bị chòng chành, mất thăng bằng và tầu sẽ bị lật nghiêng. Nếu việc này xẩy ra thì cảnh đắm tầu Trường Xuân sẽ còn khủng khiếp và thê thảm hơn cả vụ đắm tầu Titanic. Trong vụ Titanic, con người chết vì sức tàn phá của thiên nhiên. Nếu tầu Trường Xuân bị chìm, con người sẽ chết vì hành vi của người, đặc biệt là người đồng bào của mình và người đồng thuyền của mình.

Nhưng Thiên Ý đã không muốn như vậy. Thiên Ý đã khéo xếp đặt cho con tầu Trường Xuân khởi hành đúng 5 phút trước khi đoàn xe tăng Cộng sản ủi sập cổng thương cảng Khánh Hội, con tầu chỉ bị phá hoại chừng mực, để vẫn có thể lết đi trên giòng sông với tốc độ vài ba hải lý một giờ, để rồi bị mắc cạn tại vùng xình lầy Rừng Sát, chờ cho các toán du kích tại Vũng Tầu giải tán hồi 5 giờ sáng về tổ chức liên hoan Lễ Quốc Tế Lao Động, và để 2 giờ sau, con tầu tới Cap (Vũng Tầu) an toàn...

Tới biển chúng tôi đi về phía mặt trời. Trong khi chúng tôi đánh nhiều điện tín cấp cứu. Một vài điện tín trả lời cho biết Đệ Thất Hạm Đội sẽ cứu chúng tôi. Nhưng đi mãi vẫn chẳng thấy bóng dáng hạm đội đâu. Một số tầu buôn chạy qua như tầu Oregon, đã không ngừng lại. Vì họ yên trí Đệ Thất Hạm Đội đang chờ đón chúng tôi.

Vì không đủ sức chạy qua Phi Luật Tân, chúng tôi quyết định quay mũi về phia Nam, chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục cuộc hành trình sau khi sửa tầu tại Nam Dương.

Sau này chúng tôi mới biết, hôm đó, Đệ Thất Hạm Đội vẫn chờ chúng tôi ngoài hải phận quốc tế, nhưng không phải cách bờ biển 12 hải lý, mà tới 50 hải lý (theo luật hàng hải của Trung Cộng và Việt Cộng sau khi cướp được chính quyền).

Khi tầu Trường Xuân qua khỏi Côn Sơn, chúng tôi được tầu Đan Mạch Clara Maersk nhận lời cấp cứu. Ông Olsen, thuyền trưởng tầu Đan Mạch mời chúng tôi qua tầu ông để bàn về cách thức chuyển tầu. Ông cho biết tầu ông chỉ đủ sức chứa phân nửa số người tị nạn trên tầu Trường Xuân. Ông đề nghị cho đàn bà con nít chuyển tầu trước, thanh niên trai tráng sẽ ở lại chờ một con tầu Đan Mạch thứ hai sẽ đến vào lúc 5 giờ chiều. Lúc này người nào trong chúng tôi cũng mệt nhoài. Phần vì đói khát trong hai ngày hai đêm, phần vì chán nản vì cảnh quốc phá gia vong và tương lai đen tối. Chúng tôi không ai nói lời nào mặc dầu thấy giải pháp của ông Olsen có điều gì không ổn. Nhưng rồi chúng tôi chợt nhớ lại cảnh hỗn loạn trong các chuyến di tản miền Trung. Thu hết nghị lực, chúng tôi thưa với ông Olsen rằng, nếu ông ra lệnh cho đàn bà con nít đi trước thì chúng tôi sợ rằng đàn bà con nít sẽ chết hết. Vì trong điều kiện tâm lý hiện nay, con người không còn giữ được nhân đạo và kỷ luật nữa. Họ sống thuần bằng bản năng. Mà mạnh nhất là bản năng sinh tồn. Cho nên khi có lệnh chuyển tầu, đám thanh niên trai tráng sẽ dày xéo lên đàn bà con nít mà đi. Cảnh chen lấn hỗn loạn sẽ làm tầu mất thăng bằng và rất có thể tầu sẽ bị lật. Vì vậy chúng tôi xin ông thuyền trưởng cho tất cả chúng tôi ngồi chờ con tầu Đan Mạch thứ hai để cùng chuyển tầu một lượt. Rồi nhìn vào cặp mắt hiền từ của ông Olsen, chúng tôi đánh bạo thưa: "Ông xem con tầu Trường Xuân nhỏ bé thế kia mà còn dám ra biển. Xin ông thương chúng tôi cho chót bằng cách cho tất cả chúng tôi cùng lên tầu ông một lượt." Ông thuyền trưởng khe khẽ gật đầu.

Ban chỉ huy là những người sau cùng bỏ tầu Trường Xuân. Khi đặt chân lên tầu Đan Mạch, chúng tôi thấy quả nhiên tầu còn rộng chỗ. Ban trật tự cho biết trong vụ chuyển tầu này, đàn bà con nít là những kẻ đi sau.

Tôi xin kết thúc bài này bằng lời cảm tạ.

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn, chúng tôi xin tri ân Hoàng Thiên đã giúp đỡ chúng tôi ra đi yên lành.

Chúng tôi cũng xin Hoàng Thiên một lần nữa, giúp đỡ chúng tôi được trở về bình an.

Để người ở lại và người trở về gặp lại nhau trong tình Bao Dung và nghĩa Hợp Quần.

Cho người hữu trách hóa giải hết si mê lầm lẫn.

Cho 70 triệu anh em chúng tôi, tay nắm tay nhau, gây dựng lại quê hương.

Đưa đất nước chúng tôi qua cơn ác mộng tối tăm ra nơi ánh sáng mặt trời.

Cho dân tộc chúng tôi được sánh vai cùng các dân tộc láng giềng và mở mặt với nhân loại năm châu.

Khi đã ý thức được Thiên Ý, chúng tôi nguyện sẽ đem hết nhân lực phục vụ cho công cuộc này.

Chúng tôi tin rằng Trời sẽ không bỏ chúng tôi. Vì chúng tôi thường nghe nói: "Trời lúc nào cũng thương dân. Dân muốn điều gì, Trời cũng nghe theo." (Thiên Cang vu dân, dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi.)

Nhuệ Hồng
(6-11-1994)


Trở về Mục Lục bài viết