Truong-Xuan Association logo
Trường-Xuân
Hành-trình tìm Tự-Do


English
Tiếng Việt
Trang Chủ Hình ảnh Trường-Xuân Bài viết Tài-liệu Liên Lạc

Chuyến đi định mệnh - LS Nguyễn Hữu Thống




CHUYẾN ĐI ĐỊNH MỆNH

LS Nguyễn Hữu Thống

(Nguồn: Hồn Việt, 15 tháng 4, 1976)



Tôi không có ý định ra đi.

Thứ Hai 28 tháng Tư, tân Tổng Thống chỉ định Dương Văn Minh yêu cầu toàn thể các cố vấn quân sự Hoa Kỳ hồi hương trong vòng 24 giờ. Từ ngày qua, CS pháo kích dữ dội phi trường Tân Sơn Nhứt làm đình chỉ các chuyến bay. Các trực thăng mạo hiểm đáp xuống móc các thân nhân và viên chức Hoa Kỳ từ sân thượng các cao ốc.

Chiến dịch "Phượng Hoàng" về di tản kết thúc nửa đêm Thứ Ba 29. Nhiệm vụ hoàn tất, các phi công Mỹ đang liên hoan trên mặt sóng Thái Bình Dương. Trong một khung cảnh đầy hoang mang và khiếp đảm, tôi đã đi đến quyết định: ở lại. Lòng tha thiết với quê hương là một động cơ tình cảm. Kinh nghiệm Nam Vang là một lý do khách quan.

Tại Cao Miên, Quốc Hội Hoa Kỳ đã quyết nghị cấm Mỹ can thiệp bằng hàng không, viện trợ Hoa Kỳ đã rút giảm tới mức tối thiểu. Vậy mà Nam Vang đã đứng vững trong nhiều tháng. Trong điều kiện đó, Sài-Gòn không thể xụp đổ, ít nhất trong vòng 1 năm. Tháng 3-75, cuộc "Tổng công kích mùa Xuân" của CS đã đạt những thắng lợi quyết định. Từ Tây Nguyên, quân lực Quốc Gia rút lui không giao chiến (một cuộc rút lui mà lịch sử sẽ phán đoán). Chiến dịch "Tây Nguyên Đồng Khởi" đã được phát giác từ tháng bẩy 1974. Dưới chiêu bài "Dân Tộc Tự Quyết", phe Fulro đã nêu cao khẩu hiệu "Tây Nguyên của người Tây Nguyên"!

Ông Thiệu đã không ý thức hiểm họa này. Thiệu chỉ là một quân nhân và không có tầm vóc một chiến lược gia.

Thuyết "Domino" bắt đầu được áp dụng. Sau Phước Long và Đức Lập, đến lượt Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Kontum và Pleiku. Rồi cả miền duyên hải bị náo loạn. Một thất bại không giao chiến. Không phải một cuộc "di tản chiến thuật" mà Thiệu thường nói, mà là một "thất bại chiến lược".

Thiệu rút lui ngày 21. Đây không phải là một hành động hy sinh, mà là một sự đào ngũ, một sự phản bội. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế được đúng 1 tuần. Rồi tướng Minh nắm chính quyền. Tân chính phủ dầu chưa gây được một xúc động tâm lý, nhưng cũng mang lại nhiều triển vọng. Mọi người mong cho ngưng bắn. Người Mỹ đã ra đi, người Việt có thể thương thảo dễ dàng hơn. Ánh sáng Hòa Bình ló dạng sau 30 năm chinh chiến.

Tôi không tin tưởng ông Dương Văn Minh, với lập trường mập mờ của phe ông ta. Tuy nhiên, Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu là bạn tôi và Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Huyền là bạn đồng nghiệp. Tôi biết cả hai người đều không Cộng Sản.

Do đó tôi đã đến quyết định: tôi sẽ ở lại. Thiệu đã ra đi mang theo bất lực, tham nhũng và hèn nhát. Đất nước ngày nay trong sạch hơn, những người thiện chí có cơ duyên phục vụ. Với những tư tưởng trấn an đó, cùng với người em, chúng tôi lên xe đi một vòng Sài-Gòn sáng sớm thứ hai 30 tháng Tư. Đêm qua pháo kích đã thưa thớt, Saigon được hưởng một ngày an bình đầu tiên. Xe chạy qua đường Thống Nhất qua tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Cảnh náo loạn diễn ra. Người ta công khai phá rào khuân đi các bàn ghế, dụng cụ văn phòng... Thì ra từ 4 giờ sáng, Đại sứ Graham Martin đã "cuốn cờ ra đi", lá quốc kỳ tượng trưng cho sự đồng minh sinh tử! Tôi nhớ lại hình ảnh "cuốn cờ ra đi" của Đại sứ Dean Gunther tại Nam Vang. Thế là hết, sự tan rã quá đột ngột.

Từ nhiều ngày qua Đài phát thanh VC loan báo họ sẽ làm lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Hồ Chí Minh ngày 19 tháng 5 tại Sài-gòn, thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi ngày VC càng tỏ ra cứng rắn. Họ bắt đầu đòi phe Quốc Gia phải giải giới "đơn phương và toàn diện". Đó là một đầu hàng ngụy trang. Hình ảnh "Chính Phủ Liên Hiệp" chỉ là một ảo ảnh hay một cái bẫy. Tướng Minh của 1975 không có cái cơ may của Thống Chế Pétain trong những năm 40. Hy vọng hòa đàm tiêu tan với sự ra đi của lá cờ Mỹ. Và rồi tôi cũng phải ra đi.

Chúng tôi hướng về bến Bạch Đằng. Trên sông quang cảnh đìu hiu. Tối qua toàn thể hạm đội đã vượt biển Đông. Tại Kho 5 Khánh Hội chỉ còn thưa thớt vài thương thuyền bỏ trống. Không có tiếng còi tầu, không có khói đen mà cũng không thấy thủy thủ. Cổng Kho đóng kín, lính bồng súng gác và cấm ngặt ra vào. Em tôi cũng trầm tư như tôi. Là một sĩ quan cao cấp với một hồ sơ đầy thành tích chống cộng. Đối với chúng tôi, không còn chế tài nào khác là thanh trừng. Bỗng nhiên cổng kho kéo lên. Một chiếc xe jeep vội vã vượt qua. Thật là dịp may hiếm có. Em tôi xuống xe và với 1 món "quà", chúng tôi được phép vào Kho. Chúng tôi lên tầu "Tân Nam Việt". Tầu này chuẩn bị vượt biển chiều qua, nhưng thủy thủ đoàn bỗng dưng biến mất. Cùng một trường hợp: "máy móc phá hoại và thủy thủ đào ngũ" là các tầu Tân Nam Việt, Bông Hồng 9, Việt Đức và Trường Xuân. "Việt Nam Thương Tín" của các nhà kinh tài là một ngoại lệ.

Để ngăn chặn phong trào di tản bằng đường hàng không, VC pháo kích phi trường Tân Sơn Nhứt. Trên bến nước, các tổ đặc công phá máy và đe dọa các tài công. Tuy nhiên đây chỉ là sự phá hoại chừng mực. Vì ngày mai, mồng 1 tháng 5, ngày Lao Động Quốc Tế, "Ủy Ban Tiếp Thâu Tầu Biển" sẽ cống hiến cho Đảng các tầu buôn còn kẹt lại.

Trên tầu Tân Nam Việt, chúng tôi được mời vào một ca-bin có quạt máy, nước đá và bánh mì (ông chủ tầu là một người bạn vong niên). Nhưng vì cầu tầu đã kéo lên, mà gia đình chúng tôi chưa đến kịp - chúng tôi đi dạo phố từ 7 giờ sáng - nên chúng tôi đành phải nhẩy xuống, và cùng với gia đình chúng tôi lên tầu Trường Xuân. Chúng tôi đâu có quyền lựa chọn. Việt Đức và Bông Hồng 9 quá nhỏ mà Việt Nam Thương Tín lại bỏ neo ở giữa giòng sông.

Trường Xuân là một tầu buôn chở hàng, trọng tải 2.500 tấn Tầu dự định khởi hành từ 10 giờ sáng. Tới 12 giờ trưa, tầu vẫn nằm trơ không nhúc nhích. Trước đó, ông Minh kêu gọi binh sĩ đầu hàng để tránh cảnh tắm máu. Sự trao quyền sẽ diễn ra hồi 12 giờ trưa. Trái với ước nguyện của ông Minh, VC không chấp nhận thương thảo. Đúng 12 giờ ngày 30 tháng 4, một chiếc thiết giáp Nga sô do người cán binh Bắc Việt viễn chinh điều khiển, ủi xập hàng rào và tiến chiếm Dinh Độc Lập. (Trong vòng 10 hôm, Dinh Độc Lập tang thương chứng kiến cảnh 3 ông Tổng Thống lần lượt trao quyền cho một viên Tư Lệnh thứ 4.)

Thuyền trưởng tầu Trường Xuân, Phạm Ngọc Luy - tiếp nhận tất cả mọi người - hoàn toàn miễn phí. Ông Luy có khuôn mặt của Hồ Chí Minh, nhưng có từ tâm của Phật Thích Ca. Hồi 10 giờ trên tầu có chừng 2.000 người. Khi tầu khởi hành 1 giờ trưa - có tới 3.700 người trên một diện tích chừng 420 thước vuông. Trong số nhân viên thủy thủ đoàn 27 người chỉ còn sót lại 4 người: Thuyền trưởng Luy và Phụ tá Chất; truyền tin Thanh và xếp máy Phi. Số còn lại đều là những nhân viên mới trưng dụng: Trung tá Hùng không quân, Trung tá Hào cảnh sát, Trung tá Thịnh hải quân, Thiếu tá Nghĩa dù... Ba tổ đặc công theo lên tầu với nhiệm vụ phá hoại máy móc, lũng đoạn tinh thần gieo rắc hoang mang. Tầu hỏng máy và hư bánh lái. Thuyền trưởng Luy phải chỉ huy bằng khẩu lệnh. Con tầu nặng nề rẽ sóng sông Sài-gòn. Xa xa từng đoàn giang thuyền hải quân chạy ngược về, tấm áo trắng rách nát bay phấp phới trên họng súng, để tang một quốc gia. Rồi máy tầu im lặng. Con tầu bồng bềnh trên sông, trôi giạt vào vùng xình lầy, cách Vũng Tầu 15 hải lý. Hai chiếc giang thuyền hải quân quay mũi tới kéo tầu Trường Xuân. Tốn công vô ích vì tầu chở đầy sắt và người. Trong giây phút vô vọng này thình lình có tầu kéo Song An xuất hiện. Hai giang thuyền chạy tới, năn nỉ, van xin, hứa hẹn và áp lực. Sau khi đã buộc giây, con tầu tí hon Song An, như một con kiến tha một con dế, kéo tầu Trường Xuân. Như người say rượu, tầu quẹo trái, quẹo phải, rồi trái, rồi phải. Tốc độ tối đa là 2 hải lý một giờ.

Đây là một đêm dài nhất. Từng lúc giây đứt phải nối lại, từng lúc cánh quạt mắc phải lưới câu phải gỡ ra. Ánh trăng sáng tỏ và Vũng Tầu thấp thoáng ánh đèn phía xa xa.

Sau lưng chúng tôi, Sài-gòn đang liên hoan với từng chùm pháo bông. Chúng tôi qua Vũng Tầu hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng 5. Các binh sĩ VC chờ chúng tôi đã giải tán hết. Họ còn đang chuẩn bị liên hoan (1). Thế rồi tầu chúng tôi cũng nổ máy lại. Theo lệnh thuyền trưởng, chúng tôi lạc quyên để đền ơn tầu kéo Song An. (Một số đặc công CS đã nhẩy xuống tầu Song An. Trên đường về chúng ám hại thuyền trưởng và các thủy thủ, chiếm tầu và đoạt 6 triệu đồng bạc đã quyên trên tầu Trường Xuân.)

Chúng tôi tổ chức một Bộ Chỉ Huy để duy trì trật tự. Thiếu tá Nghĩa huy động một trung đội dù để bảo vệ an ninh, tước võ khí, phân phối nước và yểm trợ xếp máy Phi. Tôi được lệnh phụ tá thuyền trưởng để đọc và thảo điện tín. Hồi 10 giờ 30 chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Chúng tôi đánh tín hiệu S.O.S. đầu tiên. Mười phút sau, tầu Washington (thuộc tiểu bang Washington) phúc đáp: Washington đang liên lạc với Đệ Thất Hạm Đội và ra hiệu cho Trường Xuân chạy theo. Chúng tôi định rõ vị trí: 9 độ 50 Bắc, 107 độ 09 Đông. Chúng tôi ra tới 17 hải lý để theo Đệ Thất Hạm Đội, nhưng chẳng thấy bóng dáng các tầu chiến Hoa Kỳ!

Rồi tầu Washington chạy tới. Tầu tới ngay sát cánh trái chúng tôi. Nỗi hân hoan tràn ngập. Một sĩ quan quá khích động, bắn hỏa pháo. Thật ra cũng không có gì đáng ngại. Tuy nhiên tầu Washington hoảng vía đã đi thẳng mất dạng. Bao nhiêu tín hiệu kế tiếp của chúng tôi đều không có hồi âm.

6 giờ chiều, chúng tôi gọi S.O.S. thứ hai: "Từ tầu Trường Xuân/XVLX. Có trên 3 ngàn người tỵ nạn từ Sài-gòn. Đói và khát. SOS không trả lời. Nhiều trẻ em hấp hối. Xin được trợ giúp cấp bách." (2)

Trong giờ phút hoang mang, tiếng động cơ im bặt. Khi mọi người đều chăm chú nhìn về phía Washington, đặc công xâm nhập phòng máy và đóng kín đầu van. Không có khói bay trên boong tầu, đèn ca-bin tắt ngấm. Chúng tôi đã chịu đựng 2 ngày 2 đêm với đói khát và hấp hối. Một giọt nước là một giọt vàng. Đã có người tự tử vì tuyệt vọng (3), sóng quá êm và nước mắt đầy quyến rũ. Tôi không dám nhìn con tôi. Trong nhiều tuần, tôi đã không chuẩn bị cứu gia đình khi tôi còn có thể cứu được. Thay vì sự bình an, tôi đã mang cho đứa con thơ bao nhiêu cay đắng và có thể cả sự chết chóc. Tôi không dám nhìn vợ tôi. Với tôi, nhà tôi đã phải qua bao nhiêu điêu đứng. Vì bản tính cứng rắn, tôi đã làm lỡ nhiều cơ hội. Trong 20 năm hành nghề, tôi chỉ sắm được cho gia đình một chiếc xe cũ và một căn nhà 60 mét vuông. Tôi không biết nói khéo. Tính tôi hay nói thẳng. Châm ngôn của tôi là: "Thanh thiên bạch nhật, chính đại quang minh."



mồng 2 tháng 5

6g45. Đối với chúng tôi, mặt trời mọc hồi 6g45. Đây là giờ đánh các tín hiệu SOS. 3 phút hoàn toàn im lặng. Thanh đánh SOS thứ ba, bằng tay vì hỏng máy:

"Tầu tôi hỏng máy, tầu tôi đang chìm!"

15 phút dài đằng đẵng trôi qua. Rồi chúng tôi nhận được tín hiệu từ OWIK:

"Bạn đã liên lạc với hải quân Mỹ chưa?"

"Chưa", chúng tôi đáp. Tôi không có tần số. Và bằng cả Anh lẫn Pháp văn: "Pourvez-vous contacter US Navy?"

OWIK: "Có, tầu Mỹ đang tới! Tầu Mỹ đang tới!" Và chúng tôi chờ đợi và chờ đợi...

Và chẳng thấy bóng dáng tầu Mỹ đâu!

GẦN 8 GIỜ. Với giây giầy, giây thung và vô số dụng cụ lạ lùng khác, xếp máy Phi sửa được máy cái. Nhưng Trường Xuân bắt đầu ngập nước. Đêm qua sau buổi hội thảo, Thuyền trưởng Luy quyết định trở mũi về Nam. Trường Xuân không đủ sức chạy tới Phi Luật Tân. Mà Đệ Thất Hạm Đội thì bặt âm vô tín. Thỉnh thoảng chúng tôi nhận được vài tiếng vọng trên sóng nước chung quanh: "Tầu nào sắp đắm? Tầu nào sắp đắm?"

GẦN 9 GIỜ. Thanh mang lên một điện tín mà OWIK tức là CLARA MAERSK:

"Chúng tôi đang định vị trí của bạn. Chúng tôi sẽ đến trong 3, 4 giờ. Chúng tôi có thể cung cấp đồ ăn và thức uống. Nhưng chúng tôi không chở được nhiều người."

GẦN 11 GIỜ. Trường Xuân gửi Clara Maersk:

"Cám ơn bạn nhận cứu chúng tôi. Xin bạn nhận cứu giúp tất cả những người tỵ nạn. Rất cần đồ ăn thức uống. Vị trí của tầu hồi 3 giờ GMT 8 độ 57 Bắc, 106 độ 58 Đông, tốc độ 6 hải lý, lộ trình 175."

Clara Maersk gửi Trường Xuân: "Tôi có thể chở một số người nhưng không thể nhận tất cả. Sẽ tiếp tế đồ ăn thức uống và dược phẩm."

CHỪNG 12 GIỜ 30. Chúng tôi cử một phái đoàn qua Clara Maersk bằng ca-nô. Thuyền trưởng Anton M. Olsen (4) tiếp chúng tôi trong ca-bin. Ông cho biết trong vòng 2 giờ sẽ có 1 tầu Đan Mạch khác cũng thuộc Maersk Lines. Do đó ông đề nghị, Clara Maersk sẽ đón đàn bà trẻ con trước. Thanh niên sẽ lên tầu kia sau. Chúng tôi nhìn thấy sự khó khăn. Vì tầu kia chưa tới, nếu chỉ cho đàn bà trẻ em lên Clara Maersk sẽ có hỗn loạn, chen lấn. Các phần tử hung hãn (đa số) sẽ chà đạp đàn bà trẻ em để lên tầu. Rồi sẽ có cả đoàn người nhảy xuống biển để đi trước. Kết cuộc đàn bà trẻ em sẽ chẳng ai lên được. Cho nên chúng tôi đề nghị thuyền trưởng Olsen xin làm ơn cho chót bằng cách chấp thuận cho tất cả lên tầu.

GẦn 1 GIỜ. Chúng tôi trở lại Trường Xuân bằng ca-nô. Thuyền trưởng Luy gửi điện tín cho phụ tá Chất hãy tắt máy để hai tầu đáp nhau. Nhưng đột nhiên Trường Xuân càng ngày càng phóng nhanh. Trong khi chúng tôi thương thảo trên Clara Maersk, đặc công phá hoại các ống bơm nước. Và nước ngập tới mức độ nguy hiểm 40 phân. Do đó Trường Xuân phải phóng hết tốc độ để phun nước ra.

Trường Xuân kêu cứu Clara Maersk: "Tôi không thể bỏ neo, tầu tôi hít hơi, phải chạy mau và đang ngập nước. Tầu tôi chở nặng quá và bắt đầu chìm. Nhờ bạn ghé sát bên tôi. Nếu không tôi sẽ ghé sát bên bạn."

3 GIỜ 45. BỎ TẦU

3 sĩ quan và thuyền trưởng rời Trường Xuân sau cùng. Đứng trên boong Clara Maersk tôi thấy Trường Xuân quá rộng lớn và vắng vẻ. Thuyền trưởng Olsen khẽ nói với tôi: "Tầu đang chìm." (5)

Trong cuốn nhật ký Trường Xuân, Thanh ghi: "Bỏ tầu, toàn thể mọi người."

Sự thật không hẳn như vậy.

Trường Xuân đang chìm mang theo một lữ khách cô đơn: Đại tá Vong A Sáng, lãnh tụ Nùng, nguyên dân biểu quốc hội lập hiến, nghị sĩ, tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh. Hưởng thọ 72 tuổi.



tạ ơn

Tầu Trường Xuân thoát hiểm là một phép lạ. Tôi cảm tạ Thượng Đế đã cứu vớt chúng ta. Tôi đề nghị cấp Giải Hòa Bình Nobel năm 1975 cho thuyền trưởng Phạm Ngọc Luy của Trường Xuân và thuyền trưởng Anton M. Olsen của Clara Maersk. Cặp Phạm Ngọc Luy - Anton M. Olsen xứng đáng hơn cặp Lê Đức Thọ - Kissinger của năm 1974. Hai người sau đã trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào cuộc đổ máu tại Việt Nam. Hai người trước không giết người. Họ cứu vớt gần 4 ngàn người. Sau giờ ngưng bắn. Trong khi hòa bình.

Trại tỵ nạn Hồng Kông
tháng 5/1975
Nguyễn Hữu Thống



GHI CHÚ:
(1) VC bắn các tầu Việt Nam Thương Tín và Tân Nam Việt gây tử thương cho nhà văn Chu Tử cùng một số thương vong.
(2) Tầu chở 3.750 người, kể cả 3 em bé ra chào đời trên tầu Trường Xuân và Clara Maersk.
(3) Đại tá Sáng đã tự sát.
(4) Họ và tên của thuyền trưởng tầu Clara Mearsk đã được sửa lại cho đúng.
(5) Thực ra sau khi mọi người rời tầu, Trường Xuân lại bồng lên và không chìm.


Trở về Mục Lục bài viết